vị trí 0
1
1
English | VietNamse
Hôm nay, Chủ Nhật, Ngày 24/09/2017
Danh mục chính
Tỉ giá ngoại tệ
Loại
Mua
Bán

SJC

Quảng cáo trái vị trí 1
Quảng cáo trái vị trí 2
Hoi nghị
Quảng cáo trái vị trí 3
Quảng cáo trái vị trí 4
Quảng cáo trái vị trí 5
Quảng cáo trái vị trí 6
Quảng cáo trái vị trí 7
Quảng cáo trái vị trí 8
Quảng cáo trái vị trí 9
Quảng cáo trái vị trí 10
Submit Thread to Facebook Submit Thread to Twitter Submit Thread to Google Email Bản in
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG VÀ ẤU TRÙNG GIUN DẠ DÀY CHÓ GNATHOSTOMA SPINIGERUM Ở NƯỚC NGỌT VÀ Ở VẬT CHỦ TRUNG GIAN MESOCYCLOPS LEUCKARTI Cập nhật: 6/13/2012 4:42:04 PM (GMT+7)

Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Đức Tân, Dương Văn Quý Bình, Nguyễn Hữu Hưng. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, trong môi trường nước (ở nhiệt độ 27 ± 20C), trứng G. spinigerum nở ra ấu trùng L2 từ 7 đến 15 ngày. Ấu trùng L2 tăng cường vận động xâm nhập vào vật chủ trung gian thứ nhất là giáp xác Mesocyclops leuckarti.

Nguyễn Văn Thoại1, Nguyễn Đức Tân1, Dương Văn Quý Bình1, Nguyễn Hữu Hưng21 Phân Viện Thú y Miền Trung; 2 Đại Học Cần Thơ

 

TÓM TẮT

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, trong môi trường nước (ở nhiệt độ 27 ± 20C), trứng G. spinigerum nở ra ấu trùng L2 từ 7 đến 15 ngày. Ấu trùng L2 tăng cường vận động xâm nhập vào vật chủ trung gian thứ nhất là giáp xác Mesocyclops leuckarti. Sau 24 giờ ấu trùng xuyên qua thành dạ dày, đến xoang cơ thể, tại đây ấu trùng giảm chiều dài nhưng tăng chiều rộng cơ thể. Từ ngày thứ 3, ấu trùng tăng chiều dài và chiều rộng cơ thể, giai đoạn này ấu trùng có ruột, thực quản, hành đầu. Ở ngày 7-9, ấu trùng L2 phát triển đến giai đoạn đầu của L3, giai đoạn này ấu trùng có nhiều hàng gai bao phủ cơ thể, có ruột, thực quản, hành đầu, trên hành đầu có miệng và 4 hàng móc, trên miệng có 2 môi đối xứng. Mesocyclops leuckarti nhiễm từ 1-5 ấu trùng, kích thước L3 phụ thuộc vào cường độ nhiễm ở Mesocyclops leuckarti.

 

Từ khóa: Gnathostoma spinigerum, trứng, ấu trùng, nước ngọt, Mesocyclops leuckarti

 

 

 

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Gnathostoma  spinigerum là loài giun tròn ký sinh ở chó, mèo. Ấu trùng Gnathostoma  spinigerum có khả năng gây bệnh Gnathostoma ở người và ở nhiều loại động vật khác, tỷ lệ nhiễm được thông báo chủ yếu ở Châu Á và Nam Mỹ (Bunnag, 1991; Daengsvang, 1981). Vòng đời của G.  spinigerum đã được thông báo trước đây (Daengsvang, 1972). Ở vật chủ cuối cùng (chó, mèo) giun sống trong khối U của dạ dày, trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp, ấu trùng L2 sẽ thoát khỏi vỏ trứng và bơi tự do trong nước. Khi ấu trùng L2 xâm nhập vào giáp xác thuộc họ Cyclopidae, ấu trùng L2 phát triển đến giai đoạn đầu của L3. Khi vật chủ trung gian thứ 2 (các loài cá nước ngọt, ếch, lươn) ăn phải Cyclops, ấu trùng tiếp tục phát triển đến L3 hoàn thiện. Người hoặc chó, mèo nhiễm bệnh do ăn phải ấu trùng L3. Ở Việt Nam, người nhiễm G. spinigerum được phát hiện năm 1963 (Le VH và cộng sự, 1965), trong những năm gần đây có nhiều trường hợp nhiễm mới được phát hiện (Lê Thị Xuân, 2004; Trần Phú Mạnh Siêu, 2011). Như vậy, với vai trò quan trọng của loài ký sinh trùng này đối với ngành Thú y và Y tế hiện nay, chúng tôi tiến hành nghiên cứu vấn đề này nhằm làm rõ hơn mối quan hệ sinh thái giữa ký sinh trùng và vật chủ.

 

II.       VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 

1.      Vật liệu nghiên cứu

Mẫu bệnh phẩm nhiễm giun G. spinigerum, giáp xác Mesocyclops leuckarti; Kính hiển vi có gắn Micrometer thị kính và một số dụng cụ, hóa chất để nghiên cứu ký sinh trùng học.

 

2.      Phương pháp nghiên cứu

-       Trứng G. spinigerum thu thập trong khối U ở dạ dày chó nhiễm bệnh. Sau khi rửa 3 lần với nước cất, cho trứng vào đĩa petri có chứa nước đã khử Chloride, để ở phòng thí nghiệm, nhiệt độ khoảng 27 ± 20C. Sự phát triển của phôi bào bên trong trứng được theo dõi hàng ngày. Sau khi ấu trùng thoát ra khỏi vỏ trứng, L2 được thu thập và gây nhiễm cho Mesocyclops leuckarti.

 

-    Cyclops được thu thập từ những ao, hồ trong tự nhiên bằng lưới vớt sinh vật phù du (độ dày mắt lưới 250 µm) và được xác định loài Mesocyclops leuckarti  theo Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980).  

-          Mesocyclops leuckarti được phân ra 5 nhóm (500 M. leuckarti/ nhóm) và nuôi trong nước đã khử Chloride. Mỗi nhóm cho nhiễm ấu trùng L2 G. spinigerum lần lượt là 600, 800, 1000, 1200, 1500. Quá trình phát triển của ấu trùng trong Mesocyclops leuckarti được theo dõi hàng ngày dưới kính hiển vi có gắn Micrometer thị kính.

 

 

 

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

 

1.         Các giai đoạn phát triển trứng G. spinigerum thành ấu trùng L2

 

Bảng 1:  Quá trình phát triển trứng G. spinigerum thành ấu trùng L2

Yếu tố thí nghiệm

Tỷ lệ trứng nở (%)

Thời gian L2 thoát ra khỏi trứng (ngày)

Thời gian sống của L2 (giờ)

Kích thước L2

(Mean ± SD)

Biến động

Mean

Biến động

Mean

Chiều dài

(µm)

Chiều rộng

(µm)

Nước cất

87,32

7-14

10

36 – 140

68

410-420

(416 ±3,5)

17-22

(18,9 ± 1,6)

Nước ao tự nhiên

56,38

8-15

12

18 – 52

44

 

          

Chúng tôi thấy trứng G. spinigerum mới phân lập, có hình bầu dục, có 2 lớp vỏ, đầu nhỏ có nắp, bên trong có 1 hoặc 2 tế bào phôi, kích thước chiều dài từ 68-81µm (73,7 µm); chiều rộng từ 38-43 µm (39,8 µm). Trong môi trường nước (nhiệt độ 27 ± 20C), sau 2-4 ngày phôi bào trong trứng phân ra 2 - 4 tế bào. Ở ngày 5-6, ấu trùng đã hình thành nằm bên trong vỏ trứng, ấu trùng giai đoạn này gọi là L1. Trong vỏ trứng, L1 tiếp tục phát triển đến giai đoạn đầu của L2 và thoát ra ngoài từ nắp của vỏ trứng sau 7-15 ngày.

Cấu tạo ấu trùng L2 là hình trụ tròn chạy từ phần đầu đến phần đuôi, phần đầu nhọn và có khứa. Bên ngoài cơ thể của L2 trơn nhẵn, bên trong không nhìn rõ do bị che khuất bởi các hoạt khúc xạ phủ đầy xoang cơ thể. Chiều dài L2 biến động từ 410-420 µm (trung bình 416 ± 3,5 µm); chiều rộng biến động từ 17-22 µm (trung bình 18,9 ± 1,6 µm). Khi cho L2 vào đĩa petri có chứa nước đã khử Chloride, ấu trùng hoạt động mạnh trong nước, thời gian sống ấu trùng từ 36 - 140 giờ; ở bên ngoài môi trường ấu trùng không phát triển gì thêm (bảng và hình 1).

Hầu hết giun tròn (Nematoda) các giai đoạn phát triển của ấu trùng là ở bên ngoài môi trường, L1 nở ra từ trứng, sau các lần lột xác thành L2, L3, L4 (Smyth JD, 1962). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi trên giun tròn G. spinigerum thì giai đoạn L1 ở bên trong trứng, giai đoạn L2 ở bên ngoài môi trường và ở trong vật chủ trung gian.

Mặc dù cùng nghiên cứu trên loài G. spinigerum nhưng các thông báo có sự khác nhau về thời gian trứng nở ra ấu trùng: kết quả của chúng tôi từ 7-15 ngày, trong khi 8-18 ngày (Chellappa, 1970) và 7-30 ngày (Bhaibulaya, 1985). Kích thước L2 G. spinigerum cũng khác nhau giữa các thông báo: kết quả của chúng tôi là 416 x 18,9 µm, trong khi 360 x 18 µm (Penchom, 2011) và 242-267 x 12-13,5 µm (Chellappa, 1970).

Các loài Gnathostoma khác nhau thì thời gian trứng nở ra ấu trùng cũng khác nhau: kết quả của chúng tôi loài G. spinigerum từ 7-15 ngày, trong khi loài G. binucleatum là 8 ngày (Almeyda, 1995) và loài G. nipponicum là 14 ngày (Ando, 1989). Kích thước L2 cũng khác nhau giữa các loài: kết quả của chúng tôi loài G. spinigerum416 x 18,9 µm, trong khi loài G. binucleatum là 231,3 x 11,8 µm (Almeyda, 1995); G. nipponicum là 280 x 13 µm và G. spocyonis là 276 x 19 µm (Ash, 1962).

 

Giun G. spinigerum ký sinh

trong khối U ở dạ dày chó

Trứng 1-2 ngày

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

           

 

 

 

                                                                                 

 

L2

                                       

 

 

 

Trứng 3-4 ngày

 

 

 

 

 

Hình 1: Các giai đoạn phát triển trứng G. spinigerum thành ấu trùng L2

T

 

rứng 5-7 ngày (bên trong có L1)

Phần đuôi L2

Phần đầu L2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

2.         Các giai đoạn phát triển của ấu trùng G. spinigerumMesocyclops leuckarti

 

Bảng 2: Hình thái ấu trùng G. spinigerumMesocyclops leuckarti

Thời gian quan sát

Vị trí ký sinh

 

Hình thái ấu trùng L3 ở Mesocyclops leuckarti

Chiều dài (µm)

Chiều rộng (µm)

E

I

H

R

Biến động

Mean ± SD

Biến động

Mean ± SD

< 2 giờ

Dạ dày

370-400

390 ± 9,7

17-23

19 ± 1,8

+

+

-

-

>2 – 24 giờ

Xoang cơ thể

360-390

370 ± 9,4

18-24

20 ± 1,8

+

+

-

-

Ngày 2

Xoang cơ thể

270-300

280 ± 10

26-30

28 ± 1,4

+

+

-

-

Ngày 3-4

Xoang cơ thể

330-340

335 ± 4

29-33

32 ± 1,3

+

+

+

-

Ngày 5-6

Xoang cơ thể

350-360

355 ± 4

34-37

36 ± 1

+

+

+

+

Ngày 7-9

Xoang cơ thể

390-430

410 ± 12

44-48

46 ± 1,3

+

+

+

+

Ngày 10-15

Xoang cơ thể

390-430

415 ± 11

47-50

48 ± 1,1

+

+

+

+

 

Ghi chú:  E: thực quản, I: ruột, H: hành đầu, R: hàng móc, + là thời điểm quan sát thấy

 

Ấu trùng L2 G. spinigerum nở ra từ trứng, kích thước trung bình 18,6 x 416 µm, sau khi gây nhiễm L2 cho Mesocyclops leuckarti. Kết quả theo dõi các giai đoạn phát triển ấu trùng sau gây nhiễm ở bảng 2 và hình 2 như sau:

Sau 2 giờ, tìm thấy L2 ở dạ dày của Mesocyclops leuckarti, thời điểm này L2 thay đổi kích thước cơ thể (giảm chiều dài), chiều dài biến động từ 370-400 µm (trung bình 390 ± 9,7), chiều rộng biến động từ 17-23 µm (trung bình 19 ± 1,8).

Sau 24 giờ, L2 xuyên qua thành dạ dày, đến sống tại xoang cơ thể của Mesocyclops leuckarti, ấu trùng tiếp tục giảm chiều dài nhưng tăng chiều rộng cơ thể, chiều dài biến động từ 360-390 µm (trung bình 370 ± 9,4), chiều rộng biến động từ 18-24 µm (trung bình 20 ± 1,8).

Ở ngày thứ 2, L2 tiếp tục giảm chiều dài và tăng chiều rộng cơ thể, chiều dài biến động từ 270-300 µm (trung bình 280 ± 10), chiều rộng biến động từ 26-30 µm (trung bình 28 ± 1,4).

Ở ngày thứ 3 đến 4, L2 bắt đầu tăng chiều dài và chiều rộng cơ thể, chiều dài biến động từ 330-340 µm (trung bình 335 ± 4), chiều rộng biến động từ 29-33 µm (trung bình 32 ± 1,3).

Ở ngày thứ 5 đến 6, chiều dài L2 biến động từ 350-360 µm (trung bình 355 ± 4), chiều rộng biến động từ 34-37 µm (trung bình 36 ± 1), giai đoạn này nhìn thấy L2 có ruột, thực quản, hành đầu.

Ở ngày thứ 7, L2 phát triển đến giai đoạn đầu của L3, ấu trùng có nhiều hàng gai bao phủ cơ thể, có ruột, thực quản, hành đầu, trên hành đầu có miệng, trên miệng có 2 môi đối xứng, có 4 hàng móc trên hành đầu, số móc từ hàng 1 đến 4 lần lượt là 42, 44, 46 và 51. Kích thước L3 ở ngày thứ 7 đến 9, chiều dài biến động từ 390-430 µm (trung bình 410 ± 12), chiều rộng biến động từ 44-48 µm (trung bình 46 ± 1,3).

Ở ngày thứ 10-15, chiều dài L3 biến động từ 390-430 µm (trung bình 415 ± 11), chiều rộng biến động từ 47-50 µm (trung bình 48 ± 1,1).

        Chúng tôi thấy ấu trùng L3 G. spinigerum có thể sống ở Mesocyclops leuckarti trong khoảng 35 ngày, giai đoạn từ ngày thứ 15 trở về sau, không thấy ấu trùng phát triển gì thêm. Mesocyclops leuckarti nhiễm từ 1-5 ấu trùng, nếu Mesocyclops leuckarti nhiễm ít thì kích thước L3 lớn hoặc ngược lại (biểu đồ 1).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Biểu đồ 1: Liên quan giữa kích thước ấu trùng và cường độ nhiễm ấu trùng ở Mesocyclops leuckarti

 

 

4 hàng móc trên hành đầu của L3

 

Hình 2: Hình thái ấu trùng L3 G. spinigerumMesocyclops leuckarti

 

(H: hành đầu; I: ruột; E: thực quản; L: môi)

Ấu trùng L3

H

E

I

L

Cường độ nhiễm ấu trùng trên cyclops

Cường độ nhiễm ấu trùng trên cyclops

 L3 phân lập ở M. leuckarti

 

 

M. leuckarti

Ấu trùng  L3

Text Box: Chiều rộng (µm)Text Box: Chiều dài (µm) 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Các nghiên cứu trước đây cho biết có 4 loài Cyclops là vật chủ trung gian thứ nhất của

 

 

 

Giáp xác Mesocyclops leuckarti được xác định là vật chủ trung gian thứ nhất của loài giun tròn G. spinigerum (Sooksri V, 1967). Mesocyclops leuckarti phân bố rộng trên toàn cầu, ở Việt Nam loài này sống ở các thủy vực nước ngọt và nước lợ vùng đồng bằng, trung du và vùng núi (Đặng Ngọc Thanh và ctv, 1980).

Thời gian phát triển từ ấu trùng L2 đến L3 có sự khác nhau giữa các loài Gnathostoma. Kết quả của chúng tôi trên loài G. spinigerum là 7 ngày, trong khi loài G. nipponicum là 6 ngày (Ando K, 1989); G. binucleatumG. procyonis là 8 ngày (Almeyda và ctv, 1995; Ash LR, 1962) và 9 ngày là G. hispidum (Daengvang, 1980).

Theo Penchom (2011) thì Mesocyclops aspericornis nhiễm từ 1-15 ấu trùng, ở ngày thứ 7, kích thước L3 khoảng 50 x 460 µm. Nhưng kết quả của chúng tôi thì Mesocyclops leuckarti nhiễm từ 1-5 ấu trùng, ở ngày thứ 7 kích thước L3 là 46 x 410 µm.

Cấu tạo hành đầu ấu trùng L3 có sự khác nhau giữa các loài Gnathostoma: loài G. nipponicum có 3 hàng móc, trong khi đó 4 hàng móc là loài G. dolorest, G. hispidum G. spinigerum, nhưng số móc của mỗi hàng là khác nhau (bảng 3). Như vậy, qua so sánh thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi chính là G. spinigerum, đây là loài gây bệnh phổ biến trên người và trên động vật ở nhiều nước.

 

Bảng 3: So sánh số móc trên hành đầu của 4 loài Gnathostoma

 

Loài Gnathostoma

 

Thứ tự hàng móc trên hành đầu

 I

II

III

IV

 

G.nipponicum  (Miyazaki, 1952)

29-36 (32)

30-37 (35)

31-41 (37)

Không có

 

G.dolorest (Miyazaki, 1952)

34-42 (38)

35-43 (40)

34-39 (36)

33-41 (37)

G.hispidium (Koga và ctv, 1985)

32-38 (36)

37-41 (40)

39-44 (42)

42-48 (45)

 

G. spinigerum  (Miyazaki, 1952)

40-47 (43)

37-49 (45)

42-52 (47)

48-58 (52)

 

Kết quả của chúng tôi

39-44 (42)

42-47 (44)

43-49 (46)

47-54 (51)

 

 

 

IV. KẾT LUẬN

 

Trứng G. spinigerum nở ra ấu trùng L2 sau 7-15 ngày, L2 có kích thước 416 ± 3,5 x 18,9 ± 1,6 µm. Sau 2 giờ gây nhiễm, L2 ở dạ dày Mesocyclops leuckarti, tại đây ấu trùng giảm về chiều dài cơ thể. Sau 24 giờ, ấu trùng xuyên qua thành dạ dày đến xoang cơ thể, ấu trùng tiếp tục giảm chiều dài nhưng tăng chiều rộng cơ thể. Từ ngày thứ 3, ấu trùng tăng chiều dài và chiều rộng cơ thể. Ở ngày thứ 7, ấu trùng L2 phát triển đến giai đoạn đầu của L3, kích thước 410 ± 12 x 46 ± 1,3 µm. Giai đoạn này ấu trùng có ruột, thực quản, hành đầu, trên hành đầu có miệng, trên miệng có 2 môi đối xứng, có 4 hàng móc trên hành đầu, số móc của hàng thứ 1 đến 4 lần lượt là 42, 44, 46 và 51. Mesocyclops leuckarti nhiễm từ 1-5 ấu trùng, cường độ nhiễm liên quan đến kích thước ấu trùng.

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Đặng Ngc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên (1980): Định loi động vt không xương sng nước ngt bc Vit Nam. Nxb KHKT - Hà Ni, 318-400.

2.     AndoK, TanakaH, ChinzeiY (1989): Influence of temperature on development of eggs and larvae of Gnathostoma nipponicum Yamaguti . Jpn J Parasitol , 38: 31-37.

3.     Almeyda-Artigas, Mosqueda. M. A – Cabrera, Sanchez. E –Nunez et al (1995): Development Gnathostoma binucleatum Almeyda-Artigas, 1991 (Nematode: Gathostomidae) in its first intermediate experimental host. Research and reviews in parasitology, 53 (3): 189-194.

4.     Chellappa. D.J, Anantaraman. M (1970): The development of Gnathostoma spinigerum Owen, 1936, in its first intermediate host, Mesocyclops Leuckarti claus, 1857, in india with remarks on its zoonosic importance. Veterinary Dispensary, Pennadam, S.Arcot. No 9, May.

5.      Daengsvang S (1972): An experimental study on the life cycle of Gnathostoma hispidum  Fedchenko 1872 in Thailand with special reference to the incidence and some significant morphological characters of the adult and larval stages. Southeast Asian JTrop Med Public Health, 3:376-389.

6.      Koga M, Ishibashi J, Ishii Y, Hasegawa H, Choi DW, Lo TY (1985): Morphology and Experimental infections of Gathostomse larvae from imported loaches. Misgurnus anguilicaudatus. Jpn J Parasitol 34: 361-370 (In Japanese).

7.      Le VH, Nguyen VA, Ta VL (1965): Gnathostoma and gnathosthomose humaine au Vietnam. Bull Soc Path Exot , 58, 236.

8.      Manoon Bhaibulaya, M.B., Ph.D (1985): Development of egg and Larvae of Gnathostoma spinigerum intermediate host. Siriaj Hosp Gaz. Vol 37, No 2, February.

9.      Miyazaki I (1952): On the second stage larvae of three species of Gnathostoma occurring in Japan (Nematoda: Gnathostomidae). Acta Med 22: 1433-1441 (in Japanese).

10.  Penchom Janwan, Pewpan M Intapan, Oranuch Sanpool, Luxkhana Sadaow, Tongjit Thanchomnang and Wanchai Maleewong (2011): Growth and development of Gnathostoma spinigerum (Nematoda: Gnathostomatidae) larvae in Mesocyclops aspericornis (Cyclopoida: Cyclopidae), Parasites & Vectors, BioMed Central, 4:93.

11.  Smith JD (1962): Introduction to animal parasitology, XXV Nematoda, General amount, London: The English University Press Limited, 283-304.

12.  Sooksri V (1967): Studies on different species of cyclops in Bangkok and neighboring areas with reference to those acting as first intermediate host of Gnathostoma spinigerum. Bangkok: Mahidol University; Master thesis.

 

Tin mới
Các tin khác
Tiêu điểm
Giải trí
Thống kê
Đang xem : 22
Lượt truy cập : 5,661,100
HỘI THÚ Y VIỆT NAM
VIETNAM VETERINARY ASSOCIATION
Địa chỉ: 86 Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: (04) 3869 1082

Copyright © 2012 Hội Thú Y Việt Nam - Thiết kế và phát triển bởi Bambu®